Đối tác chiến lược

chung cư vinhomes mỹ đình

Huy Thuan
Huy Thuan

máy chạy bộ cơ - noi that 190

Dự báo thủy sản Ôxtrâylia đến năm 2017

Đăng lúc: Thứ ba - 26/06/2012 11:34 - Người đăng bài viết: admin
Theo Bộ Nông, Lâm, Ngư nghiệp Ôxtrâylia (ABARE), tổng giá trị sản lượng thủy sản của nước này năm 2012-13 dự kiến tăng 4%, đạt 2,3 tỉ USD.
 
1
Trong thập kỷ qua, giá trị sản lượng thủy sản của Ôxtrâylia đã giảm đáng kể do giá một số loài như tôm hùm đá, tôm, bào ngư và cá ngừ sụt giảm. Tuy nhiên, trong 5 năm qua, nhờ sản lượng cá hồi nuôi tăng, đã bù đắp một phần cho sản lượng khai thác nên tốc độ sụt giảm chung đã giảm bớt phần nào. Dự báo trong 5 năm tới, giá trị sản lượng thủy sản của Ôxtrâylia sẽ ổn định ở mức khoảng 2,2 tỷ USD trong giai đoạn 2016-2017.
Các nhóm sản phẩm
Năm 2009-10, giá trị sản lượng thủy sản của Ôxtrâylia thấp nhất trong 1 thập kỷ, đạt 2,2 tỷ USD, giảm 0,8% so với năm 2008-09 và giảm 31% kể từ 2000-01.
Năm nhóm sản phẩm hàng đầu (tính theo giá trị) gồm cá hồi, tôm hùm đá, tôm, bào ngư và cá ngừ. Trong thập kỷ qua, tôm hùm đá vẫn là loài có giá trị cao nhất của Ôxtrâylia, nhưng năm 2009-10, cá hồi vươn lên đứng đầu với giá trị 369,1 triệu USD, chiếm 17% tổng giá trị sản lượng thủy sản, tiếp theo là tôm hùm đá với 368,8 triệu (17%), tôm 324,1 triệu (15%), bào ngư 180,3 triệu (8%) và cá ngừ 125,3 triệu (6%).
Khai thác thủy sản
Năm 2000-01, ngành khai thác thủy sản Ôxtrâylia chiếm 74% tổng giá trị sản lượng thủy sản trong, đó 74% được khai thác ở các ngư trường do các bang quản lý (ngư trường nằm trong phạm vi 3 hải lý tính từ bờ biển các bang – vùng biển gần bờ). Phần 26% còn lại khai thác ở các ngư trường do Liên bang quản lý (Được gọi là Vùng biển khai thác thủy sản của Ôxtrâylia – Vùng biển trong phạm vi 200 hải lý). Riêng năm 2009-10, tỉ trọng thủy sản khai thác tự nhiên chỉ chiếm 62% tổng giá trị thủy sản cả nước, thể hiện xu hướng giảm sản lượng thủy sản tự nhiên, cả ở vùng biển gần bờ và xa bờ, trong tổng sản lượng thủy sản.
Về giá trị, bang Tây Ôxtrâylia đóng góp cao nhất, chiếm 26% (271,9 triệu USD) tổng giá trị thủy sản khai thác ở các ngư trường bang. Tuy nhiên, trong năm 2009-10, giá trị sản lượng giảm 7%, chủ yếu do sản lượng các loài tôm hùm đá, bào ngư, sò điệp – chiếm tới 74% sản lượng khai thác trong vùng biển gần bờ nói chung - giảm.
Nuôi trồng thuỷ sản
Trong thập kỷ vừa qua, tổng giá trị ngành NTTS Ôxtrâylia giảm 4% so với thập kỷ trước đó, đạt 923 triệu USD năm 2009-10. So với ngành khai thác, ngành NTTS giảm chậm hơn, vì thế tỉ trọng ngành này trong tổng giá trị lại tăng từ 26% năm 2000-01 lên 38% năm 2009-10.
Cá hồi là nhóm loài có tỉ trọng lớn nhất trong ngành nuôi của Ôxtrâylia, chiếm 43% về khối lượng và 42% về giá trị. Từ năm 2004-05, giá trị sản lượng cá hồi nuôi tăng 117% (210,9 triệu USD), đạt 391,5 triệu năm 2009-10, nhờ sản lượng ở Tasmania tăng mạnh.
Cá ngừ nuôi chỉ gồm 1 loài cá ngừ vây xanh miền Nam với giá trị chiếm 12% (102,2 triệu USD) tổng giá trị thủy sản nuôi năm 2009-10. Giá trị sản lượng tôm nuôi năm 2009-10 đạt 77,4 triệu, chiếm khoảng 9% tổng giá trị NTTS và tăng 36% (20,6 triệu) so với 2008-09. Năm 2009-10, sản lượng tôm nuôi chủ yếu tăng ở Queensland, đạt  5.216 tấn, tăng 37% (1.395 tấn).
Thương mại thủy sản năm 2010-11 ổn định
 Trước năm 2007-08, Ôxtrâylia là nước NK thủy sản nếu nhìn vào khối lượng, nhưng về giá trị thì lại là nước XK. Đó là do cơ cấu sản phẩm thủy sản XK và NK của nước này. Ôxtrâylia chủ yếu XK các loài giá trị cao như tôm hùm đá, cá ngừ và bào ngư, còn NK các sản phẩm giá trị thấp hơn như cá philê đông lạnh, cá hộp và tôm đông lạnh. Từ năm 2007-08, giá trị NK và XK không còn chênh lệch và đến nay Ôxtrâylia là nước NK ròng thủy sản về giá trị.
Năm 2010-11, Hồng Kông là thị trường XK thủy sản lớn nhất của Ôxtrâylia, chiếm 44% (539 triệu USD) trong tổng kim ngạch XK thủy sản.  Năm 2010-11, XK sang Hồng Kông giảm 90 triệu USD do Ôxtrâylia chuyển hướng sang Trung Quốc lục địa (XK tăng 102 triệu USD). Các thị trường XK chính khác năm 2010-11 là Nhật Bản (chiếm 22%, đạt 269 triệu USD), Trung Quốc (12%, 146 triệu), Mỹ (4 %, 43 triệu) và Singapo (4%, 43 triệu USD). Tổng cộng năm thị trường trên chiếm tới 86% tổng giá trị XK thủy sản của Ôxtrâylia năm 2010-11.
Năm 2010-11, tổng giá trị NK thủy sản của Ôxtrâylia tăng 1% (16,3 triệu USD) đạt 1,5 tỷ USD. Trong đó, 83% là thủy sản làm thực phẩm, tăng 2% (27 triệu USD) đạt 1,3 tỉ USD về giá trị do đơn giá NK thấp hơn nhờ đồng đô la Ôxtrâylia (AUD) tăng mạnh.
Dự báo trung hạn
Dự báo, giá trị sản lượng thủy sản của Ôxtrâylia sẽ tăng 4%, đạt 2,3 tỷ USD trong năm 2012-13. Giá trị XK các loài chủ lực tăng, trong đó cá ngừ và cá hồi tăng mạnh nhất, lần lượt là 12% và 6%. Trong trung hạn, sản lượng và giá trị các loài sẽ chịu nhiều ảnh hưởng do biến động giá nguyên liệu, thiếu lao động, tỷ giá hối đoái, cũng như các hoạt động quản lý nguồn lợi. Nếu đồng AUD duy trì xu hướng giảm giá, ngư dân sẽ có lợi về giá, nhất là đối với các loài sản xuất chủ yếu để XK. 
Sự sụt giảm tổng giá trị sản lượng ngành khai thác có thể được bù đắp phần nào nhờ sự gia tăng giá trị sản lượng NTTS, đặc biệt là bào ngư, cá hồi và cá ngừ.
Giá trị cao của đồng AUD năm 2011-12 và 2012-13 dự báo sẽ giúp ổn định giá trị XK thủy sản ở mức 1,3 tỷ USD. Về trung hạn, đồng AUD giảm và các loài có giá trị cao tăng sẽ nâng doanh thu XK.
Tôm
Khoảng 50% sản lượng tôm của Ôxtrâylia được khai thác tại vùng biển phía bắc ngoài khơi Queensland và Lãnh thổ bắc Ôxtrâylia. Tuy nhiên, sản lượng tôm nuôi ngày càng tăng. Năm 2010-11, tôm nuôi chiếm 7% sản lượng tôm. Tôm chủ yếu nuôi ở Queensland với sản lượng đạt 4.500 tấn năm 2010-11, trị giá 65 triệu USD.
Năm 2010-11, tổng sản lượng tôm ước tính giảm 2%, đạt 26.400 tấn. Sự sụt giảm này là do sản lượng tôm khai thác và tôm nuôi từ Queensland giảm sau khi xảy ra lũ lụt và bão Yasi hồi đầu năm 2011. Tuy nhiên, nó được bù đắp nhờ tôm he được mùa ở ngư trường tôm phía bắc, đạt 6.900 tấn, mức cao nhất trong thập kỷ này. Sản lượng tôm năm 2011 giảm dẫn đến giá trị giảm 5%, đạt 308 triệu USD.
Trong tương lai gần, dự kiến sản lượng tôm khai thác sẽ ổn định nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế như giá nhiên liệu và tỷ giá đồng AUD. Nếu đồng AUD giảm trong trung hạn, giá tôm Ôxtrâylia tại thị trường nội địa và XK có thể được cải thiện. Tuy nhiên, dự kiến sản lượng tôm nuôi sẽ tiếp tục tăng đến 2016-17. Giá trị sản lượng tôm dự báo giảm 2%, đạt 266 triệu USD trong thời kỳ 2016-17.
Năm 2010-11, lợi nhuận XK tôm tăng 20% ​​do sản lượng XK tăng 38%, dù tỉ giá hối đoái tăng.
Tôm hùm đá
Khoảng 60% sản lượng tôm hùm đá có nguồn gốc từ Tây Ôxtrâylia. Năm 2010-11, sản lượng tôm hùm đá ở Tây Ôxtrâylia chiếm 54% tổng sản lượng khai thác của Ôxtrâylia. Hai loài tôm hùm đá chính khác đến từ Nam Ôxtrâylia và Tasmania, chiếm 16% và 13% tổng sản lượng khai thác năm 2010-11. Năm 2010-11, Tây Ôxtrâylia, Nam Ôxtrâylia và Tasmania chiếm 48%, 21% và 15% của tổng giá trị tôm hùm đá.
Năm 2010-11, sản lượng tôm hùm đá Ôxtrâylia giảm đáng kể, đạt 9.765 tấn so với mức cao nhất năm 2003-04 (khoảng 19.000 tấn). Nguyên nhân là sản lượng ở Tây Ôxtrâylia giảm do áp dụng giới hạn ở mức 5.500 tấn theo hạn ngạch riêng lẻ có thể chuyển giao (ITQ). 
Sản lượng trong thời kỳ trung hạn dự kiến ​ ổn định do ba bang sản xuất tôm hùm đá lớn hiện đang quản lý theo hệ thống TAC và hình thức ITQ. Nếu đồng AUD giảm, giá nội địa dự báo ​​sẽ tăng trong trung hạn nên giá trị sản lượng sẽ tăng lên 421 triệu USD trong năm 2016-17.
Tổng XK tôm hùm đá dự kiến sẽ vẫn tương đối ổn định. Giá XK dự kiến ​​sẽ tăng do AUD giảm. Vì thế, doanh thu XK dự đoán đạt 412 triệu USD vào năm 2016-17.
Bào ngư
Khoảng 80% sản lượng bào ngư Ôxtrâylia được thu hoạch từ các bang Tasmania, Victoria và Nam Ôxtrâylia. Mặc dù sản lượng bào ngư chủ yếu là khai thác, nhưng nuôi bào ngư cũng ngày càng tăng. Ngành nuôi bào ngư tăng 54% sau 5 năm (đạt 721 tấn năm 2010-11) và sản lượng bào ngư nuôi sẽ tiếp tục tăng mạnh hơn đến 2016-17 do các trại nuôi tại bang Victoria phục hồi sau dịch bệnh vi rút Ganglioneuritis.   
Mặc dù năm 2010-11 sản lượng chưa hoàn toàn phục hồi, nhưng đây là năm đầu tiên kể từ năm 2004-05, bào ngư khai thác đạt tốc độ tăng tích cực. Trong những năm gần đây, TAC ở các khu vực bị ảnh hưởng thấp hơn đã giúp nguồn lợi bào ngư phục hồi. Dự kiến 5 năm tới nguồn lợi sẽ phục hồi hoàn toàn. Dự báo sản lượng bào ngư năm 2011-12 sẽ thấp hơn 5.376 tấn, nhưng sẽ tăng từ 2012-13 và đạt 6.300 tấn vào năm 2016-17.
Ôxtrâylia tiếp tục XK khoảng 60-70% sản lượng bào ngư, hầu hết sang Trung Quốc và Hồng Kông. Trong trung hạn, dự kiến ​​giá sẽ tăng. Giá trị sản xuất và giá trị XK dự kiến ​​đạt 230 triệu USD và 235 triệu USD năm 2016-17.
Cá ngừ
Khoảng ¾ sản lượng cá ngừ của Ôxtrâylia được XK, chủ yếu sang Nhật Bản và Hoa Kỳ, nhưng sản lượng XK sang Thái Lan và Nam Thái Bình Dương cũng đang tăng. Loài cá ngừ chính là cá ngừ vây xanh miền nam, khai thác bằng nghề lưới vây từ vùng biển quốc gia và sau đó vỗ béo tại các trại nuôi gần cảng Lincoln ở Nam Ôxtrâylia. Ngoài ra, cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to và cá ngừ vây dài cũng là những loài XK quan trọng.
Năm 2010-11, ngư trường cá ngừ vây xanh miền Nam và ngư trường cá ngừ và cá cờ miền đông chiếm lần lượt 59% và 31% tổng sản lượng. Giá trị sản xuất cá ngừ tăng 13% đạt 141 triệu USD, trong đó, 115 triệu USD từ ngư trường cá ngừ vây xanh miền Nam. Cá ngừ vây vàng được khai thác chủ yếu ở ngư trường cá ngừ và cá cờ miền Đông, chiếm 70% tổng giá trị tại ngư trường.
Do sản lượng cá ngừ vây xanh miền nam bị cắt giảm theo chương trình TAC, khối lượng nuôi giảm trung bình 19,7% từ 2009-10 đến 2010-11, sản lượng cá ngừ từ ngư trường cá ngừ và cá cờ miền Đông cũng giảm 7 %.
Dù tỷ giá hối đoái cao nhưng giá cá ngừ trong năm 2010-11 vẫn tăng. Đó là do nguồn cung cá ngừ thế giới giảm do sản lượng khai thác ở Trung Tây Thái Bình Dương bị  hạn chế.
Về trung hạn, nguồn cung cá ngừ vây xanh thế giới dự kiến ​​sẽ bị thắt chặt do hạn ngạch quốc tế hạn chế, chi phí sản xuất và chi phí nguyên liệu cao. Sản lượng và giá trị XK dự kiến sẽ tăng nhờ Ôxtrâylia tăng cường phân bổ tổng sản lượng cho phép khai thác cá ngừ vây xanh miền Nam trong mùa khai thác năm 2013 và 2014. Tuy nhiên, giá trị và sản lượng XK chỉ tăng nhẹ do tỷ giá đồng yên ngày càng tăng.
Cá hồi
Cá hồi là loài nuôi chính của Ôxtrâylia với sản lượng 35.000 tấn. Hơn 90% sản lượng đến từ Tasmania, còn lại ở Victoria và New South Wales. Giá trị sản lượng ước tính tăng 10% từ 369 triệu USD năm 200-10 lên 407 triệu USD năm 2010- 2011.  Sự gia tăng này là do sản lượng cá hồi ở Tasmania tăng 10,6%.
Trong trung hạn, dự kiến sản lượng tăng thêm khoảng 15.000 tấn. Sự trở lại của ngành cá ngừ Chi lê sẽ khiến giá cá hồi giảm trong năm 2011-2012. Tuy nhiên, cá hồi Ôxtrâylia được XK không nhiều nên điều này cũng không ảnh hưởng lắm. Dự đoán, giá cá hồi trong nước giảm đáng kể từ 2011-2012 đến 2016-2017 do  các sản phẩm NK cạnh tranh.

Hằng Vân dịch
Thefishsite.com

Nguồn tin: vietfish.org
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Quang Cao Vi Tri C
Quang Cao Vi Tri D
Quang Cao

Tin Tức Xem Nhiều Nhất

    THƯƠNG HIỆU THỦY SẢN

    Aquativ

    Đối tác chiến lược của

    noi that hoa phat

    Lâm Thị Ngọc Trân
    0903794022