Đối tác chiến lược

chung cư vinhomes mỹ đình

Huy Thuan
Huy Thuan

máy chạy bộ cơ - noi that 190

Kiểm soát chất lượng nước và đáy ao nuôi tôm thông qua chỉ số pH và chỉ số Tiềm năng oxi hóa khử ORP

Đăng lúc: Thứ sáu - 26/10/2012 09:41 - Người đăng bài viết: admin
Cùng với kiểm soát chất lượng giống đầu vào, chất lượng thức ăn và quản lý thức ăn thì kiểm soát chất lượng nước và quản lý đáy ao cũng là một trong các yếu tố kỹ thuật quan trọng trong nghề nuôi tôm. Bài viết này bàn về việc kiểm soát chất lượng nước – kiểm soát biến động pH (thông qua kiểm soát mật độ tảo và Kiềm) và quản lý đáy ao (thông qua kiểm soát tiềm năng oxi hóa khử ORP - Oxidation Reduction Potential).

Phần 1: Kiểm soát chất lượng nước (kiểm soát biến động pH nước)

Chất lượng môi trường ao nuôi không ổn định sẽ ảnh hưởng đến hoạt động trao đổi chất và tiến trình sinh lý khác của vật nuôi – làm gia tăng stress (sốc) đối với vật nuôi đưa đến dễ mẫn cảm với bệnh tật gây chết vật nuôi và làm chậm tăng trưởng, ảnh hưởng đến năng suất – sản lượng.

pH là một trong các yếu tố cơ bản ảnh hưởng chất lượng nước ao nuôi – pH hay Hydrogen tiềm năng phản ánh độ axít hoặc ba zơ của dung dịch nước – Khoảng đo pH có giá trị từ 0 đến 14 và tùy theo giá trị đo pH dung dịch nước được gọi là trung tính, axít hay bazơ.

Khoảng pH thích hợp cho nuôi trồng thủy sản là 6 đến 9 – tối ưu là 7,5 đến 8,5.
 
 

pH > 9,0
 
Ammonium sẽ chuyển hóa thành Ammonia độc và gia tăng các độc tố của tảo lam

pH < 6,5
 
Phóng thích kim loai nặng từ nền đáy gây ảnh hưởng vật nuôi
7,5-8,5
Thích hợp cho nuôi thủy sản
 
 
pH thấp làm giảm quá trình trích trữ khoáng trong cơ thể tôm làm tôm mềm vỏ hoặc lột xác không hoàn toàn, ngăn cản quá trình tạo các mô của sinh vật.

pH phụ thuộc rất lớn quá trình quang hợp và hô hấp. Vì vậy, kiểm soát pH cần thông qua kiểm soát mật độ tảo trong ao và lượng CO2 tạo ra do quá trình hô hấp.

Nước có pH thấp thì tảo kém phát triển, ngoài ra các loài động vật phù du làm thức ăn tôm cá thường phát triển tốt trong nước có pH hơi kiềm.

Mật độ tảo càng cao thì biến động pH trong ngày càng lớn – Vì vậy cần kiểm soát mật độ tảo vừa phải. Kiểm soát được pH trong khoảng 7,8 đến 8,2 và biến động trong ngày của pH < 0,5 là tối ưu nhất.
 
 
 
Hình 1. Quan hệ giữa mật độ tảo và biến độ pH trong ngày (pH ít biến động khi mật độ tảo vừa phải)
 

Chú thích: Dense bloom: mật độ tảo cao; Sparse bloom : mật độ tảo vừa phải; Sunrise: sang sớm; Sunset: chiều tối.

Lượng CO2 tạo ra do quá trình hô hấp phụ thuộc sinh lượng của sinh vật trong ao. pH càng thấp thì càng tăng tính hòa tan của CO2 trong nước – làm a xít hóa nước.
 
 
Hình 2. Cân bằng giữa pH và CO2

Tổng độ kiềm của nước là năng lực của nước trong việc trung hòa các a xít  (bởi các ba zơ HCO3-, CO3- và OH-) hay còn gọi là năng lực hệ đệm của nước. Tổng độ kiềm thường được đo dưới dạng mg/l Cancium Carbonate (CaCo3).

Độ kiềm nước càng thấp thì biến động độ pH càng lớn – Trong nước nuôi tôm phải duy trì được độ kiềm cao (100-120) đễ ổn định được pH vì nếu đệ độ kiềm xuống thấp sẽ làm pH biến động lớn trong ngày làm gia tăng stress (sốc) cho tôm, làm giảm tăng trưởng và gây chết tôm.
 
 
Hình 3. Quan hệ giữa độ kiềm và biến động pH trong ngày
 

Chú thích: Low alkalinity water induces broad pH fluctuations inducing shrimp stress, reduced growth and even mortality: độ kiềm thấp làm tăng biến động pH trong ngày, gây sốc tôm, giảm tăng trưởng và gây chết tôm; High alkalinity levels with high pH affect shrimp molting as well (excess salt lose): độ kiềm cao và pH cao cũng ảnh hưởng lột xác của tôm (làm mất muôi trong cơ thể tôm); Early morning: sáng sớm; Mid afternoon: giữa chiều.

Giữ pH ổn định cao vừa phải (7,8 đến 8,2) và độ kiềm cao vừa phải (khoảng 100-120 mg/l) là tối ưu nhất cho nuôi tôm biển.

Quá trình quang hợp bẻ gãy O xít carbon (CO2) chuyển hóa năng lượng mặt trời và carbon vào vật chất hữu cơ dưới dạng đường – quá trình quang hợp xảy ra ở thực vật, tảo và một số vi khuẩn. Khí o xít carbon từ không khí có độ hòa tan vào nước cao hơn độ hòa tan của khí oxi. Khi hòa tan khí o xít carbon tạo a xít carbonic.