Đối tác chiến lược

chung cư vinhomes mỹ đình

Huy Thuan
Huy Thuan

máy chạy bộ cơ - noi that 190

Sinh học và sản xuất giống cua đồng Eriocheir sinensis ở Trung Quốc

Đăng lúc: Thứ năm - 05/07/2012 23:40 - Người đăng bài viết: Hoa
Cua đồng hiện được nuôi ở hầu hết các tỉnh và vùng lãnh thổ của Trung Quốc nhưng tập trung chủ yếu ở tỉnh Giang Tô và tỉnh Triết Giang ở phía Nam và tỉnh Liêu Ninh ở phía Bắc. Sản lượng hàng năm báo cáo đạt 570.000 tấn trong năm 2005, tăng hơn 40 lần so với năm 1991. Dựa trên số liệu thống kê từ Cục Thuỷ sản Trung Quốc, các trại giống sản xuất giống cua đồng cung cấp cua giống giai đoạn megalopae đạt hơn 200.000 kg (khoảng 140.000 cua giống megalopae cho mỗi kg) vào năm 2001. Sau đó sản xuất hàng năm tăng hơn gấp đôi đạt 522.893 kg cua giống vào năm 2003.

Sinh học:

Đặc điểm sinh học cua đồng Trung Quốc sống ở suối và hồ nước ngọt, thích môi trường nước sạch và các thực vật thủy sinh tươi tốt. Chúng ăn tạp và ăn vào ban đêm. Thức ăn  bao gồm thực vật thủy sinh và côn trùng, động vật thân mềm nhỏ, cá, tôm, giun đất. Thực vật thủy sinh thường chiếm số lượng lớn trong đường ruột của chúng, có lẽ vì tính sẵn có của nguồn thức ăn này. Cua đồng có khả năng chịu nhiệt độ rộng và có thể tồn tại giữa 1 ° C đến 35 ° C, tuy nhiên, vào mùa đông khi nhiệt độ giảm xuống dưới 5 ° C, chúng thường tìm lổ ẩn nấp và ngưng ăn. Chúng có thể chịu đựng thời gian dài nhịn đói và có thể tồn tại mà không cần ăn hơn một tháng.

Cua đồng Trung Quốc thuộc nhóm sinh vật catadromous, có nghĩa là chúng dành phần lớn cuộc sống trong vùng nước ngọt, sau đó quay trở lại biển để sinh sản. Trong tự nhiên, cua trưởng thành thành thục sinh dục sẽ bắt đầu di cư xuôi dòng hạ lưu vào cuối mùa thu và con cái đạt thành thục buồng trứng khi di cư đến vùng cửa sông nơi có thủy triều. Sau khi giao phối và đẻ trứng, trứng được giữ ở bụng bởi các phần chân pleopods của con cái. Cua cái có thể trú qua mùa đông ở vùng nước sâu hơn, nhưng vào mùa xuân, chúng quay trở lại vùng nước nông để trứng nở ra ấu trùng.
 
Ấu trùng phát triển trong nước lợ. Ấu trùng mới nở là các sinh vật phù du đầu tiên giai đoạn zoea. Chúng trải qua năm giai đoạn biến thái zoeal (zoea 1-5) trước khi biến thái thành các giai đoạn megalopa, đó là khi chúng bắt đầu có hình thái con cua, và bắt đầu bơi với phụ bụng. Megalopae di chuyển ngược dòng và phát triển thành cua trưởng thành sống ở các đáy hồ, sông suối. Cua trưởng thành tiếp tục phát triển cho đến khi chúng thành thục sinh dục với lần lột xác cuối cùng. Cua giai đoạn đầu tiên trải qua 15 lần lột xác trong khoảng thời gian khoảng hai năm để đạt đến lần lột xác cuối cùng là giai đoạn thành thục sinh dục và không gia tăng về kích thước nữa.

Sản xuất giống:

Cua bố mẹ chất lượng cao là tiêu chí đầu tiên để sản xuất giống thành công. Lý tưởng nhất, cua mẹ nên đạt 125-150 gram và cua bố nên lớn hơn 150 gram. Chỉ chọn cua bố mẹ mạnh khỏe và phụ bộ hoạt động tốt còn nguyên vẹn và thường thu thập từ các hồ và suối thường tốt hơn nguồn cua bố mẹ từ các ao nuôi.  Dinh dưỡng cua bố mẹ là rất quan trọng trong quá trình phát triển và thành thục buồng trứng vào cuối tháng Chín đến giữa tháng Mười một. Thức ăn nuôi cua bố mẹ là thức ăn tự nhiên tươi, bao gồm cá tạp (Chaeturichthys stigmatia), nghêu dao cạo (Sinonovacula constricta), và trùn biển (Nereis japonicus). Chế độ ăn bổ sung các axit béo thiết yếu để chất lượng thành thục cua bố mẹ được tốt.
 
Sau khi nuôi vỗ thành thục, cua bố mẹ với tỉ lệ cái : đực khoảng 2 đến 2.5 : 1 và nước lợ khoảng 14-20 phần nghìn, ở nhiệt độ tương ứng 8-12 ° C. Nền đáy cát hoặc bùn cứng được cung cấp để tạo điều kiện thuận lợi cho các phần trứng ép ở bụng cua cái. Ngay sau khi nước lợ được đưa vào, cua sẽ bắt cặp  và giao phối, sinh sản thường xảy ra trong vòng hai tuần sau khi giao phối. Cua mang trứng có thể được tìm thấy sau khi giao phối, và trong khoảng một tuần, 70-80% cua cái sẽ mang trứng. Quá trình này giúp cua sinh sản đồng bộ và cho phép các trại sản xuất giống sắp xếp thời gian phù hợp nhất việc ương nuôi ấu trùng. Khả năng sinh sản của cua đồng là tương đối cao, với cua cái 100-200-gram có thể sản xuất từ 200.000 - 900.000 trứng.

Sau khi đẻ trứng, cua cái mang trứng ở các phần phụ chân bơi pleopods bên dưới bụng của chúng và phôi phát triển trong khoảng thời gian 2-4 tháng tùy thuộc vào nhiệt độ, có thể thao tác nhiệt độ trong trại giống hoặc để tăng tốc độ hoặc làm chậm phát triển phôi.
 
Ương ấu trùng : Có hai kỹ thuật nuôi ấu trùng, cụ thể là thâm canh trong nhà và bán thâm canh hoặc quảng canh ngoài trời, đã được phát triển cho cua đồng:
 
Ương thâm canh trong nhà được thực hiện chủ yếu trong các bể bê tông kiểm soát nhiệt độ. Kích thước bể điển hình là 5 x 5 x 2 m, nhiệt độ bình thường được kiểm soát ở mức 18 ° C cho zoea-I, nhưng tăng 1 ° C ở từng giai đoạn zoeal tiếp và đạt khoảng 24 ° C trước giai đoạn ấu trùng chuyển megalopae. Vi tảo, luân trùng sống, ấu trùng Artemia và copepods (thu hoạch từ tự nhiên), luân trùng đông lạnh và lòng đỏ trứng được sử dụng để nuôi ấu trùng. Mật độ thả ban đầu thường là 200,000-500,000 ấu trùng trong một mét khối, và sản lượng megalopa sản xuất thường đạt 150-500 grams/m3 hoặc 20.000-70.000 larvae/m3. Tỉ lệ sống sống từ 10 đến 15%.
 
Hạn chế thay nước giai đoạn từ zoea-1 đến zoea-3, tuy nhiên, tỉ lệ thay nước cao hơn sau khi giai đoạn zoea-3 và giai đoạn megalopal, đến giai đoạn megalop thì nước được thay hai lần mỗi ngày. Thuốc kháng sinh, chẳng hạn như tetramycin hoặc tetracycline, thường được sử dụng. Phạm vi độ mặn tối ưu cho nuôi ấu trùng là 20-25 phần nghìn, mặc dù megalopa có thể được nuôi trong độ măn từ 10-30 ppt. Nước mặn tự nhiên hay nước biển nhân tạo đều có thể được sử dụng. Nước biển nhân tạo chủ yếu được sử dụng trong các trại giống xa biển và chi phí thường cao hơn nhiều so với nước biển tự nhiên, do đó nó ít được sử dụng. Để thuần hóa megalopae đến nước ngọt, độ mặn thường bắt đầu được giảm ba ngày sau khi ấu trùng đã trở thành megalopae và độ mặn giảm xuống dưới 5 ppt trước khi megalop đạt 6-7 ngày tuổi. Toàn bộ chu kỳ ương nuôi ấu trùng kể cả giai đoạn thuần hóa megalopa mất khoảng 22-24 ngày. Megalopae sáu đến bảy ngày tuổi (khoảng 140.000 megalop cho mỗi kg) có thể được bán cho các trang trại nuôi cua đồng nước ngọt.
 
Ương nuôi ấu trùng ngoài trời được thực hiện trong ao đất ngoài trời mà không có kiểm soát nhiệt độ. Các ao, lý tưởng với đáy đất sét mịncứng, thường được xây dựng gần vùng cửa sông  (20-25 ppt) và gần các khu vực có nguồn nước ngọt. Kỹ thuật ương ngoài trời đã thiết lập một xu hướng mới trong sản xuất cua giống ở Trung Quốc trong những năm gần đây và trở nên rất phổ biến vì nó đòi hỏi cơ sở vật chất ít hơn (tòa nhà, sưởi ấm và hệ thống sục khí). Nó cũng rẻ hơn đáng kể để thiết lập và vận hành dễ dàng hơn, thích hợp hơn cho nông dân. Ngoài ra, thuốc kháng sinh không được sử dụng trong các hệ thống này, chất lượng của megalopae sản xuất nói chung tốt hơn, và do đó con giống được ưa chuộng bởi những người nông dân nuôi cua. Phương pháp này gần đây đã trở thành kỹ thuật chiếm ưu thế cho sản xuất megalopae nuôi tại Trung Quốc.
 
Có hai loại kỹ thuật ương ngoài trời: bán thâm canh và quảng canh. Kỹ thuật bán thâm canh sử dụng các ao hồ nhỏ 400-700 mét vuông được trang bị sục khí, trong khi kỹ thuật quảng canh thực hành trong các ao lớn hơn (1-1,5 ha) và không có sục khí. Sản xuất cua megalopae mỗi đơn vị mét khối nước là cao hơn và chi phí cũng cao hơn trong hệ thống bán thâm canh so với quảng canh. Kỹ thuật ương ngoài trời chủ yếu trong thời gian giữa đến cuối mùa xuân khi nhiệt độ nước dao động từ 10 đến 23 ° C.
 
Điển hình của kỹ thuật bán thâm canh là trong các ao hình vuông hoặc tròn và sâu 1,5 mét, trong khi kỹ thuật quảng canh các ao thường có hình chữ nhật và thường được xây dựng trong khu vực bãi triều cao. Một kênh sâu 1,5 mét được đào xung quanh chu vi của mỗi ao (được gọi là "loop kênh") phòng ngừa biến động nhiệt độ đột ngột có thể dẫn đến tử vong ấu trùng hàng loạt. Hai mươi đến 50 ngày trước khi thả nuôi ấu trùng, ao được khử trùng bằng cách áp dụng 1.500-2.000 kg vôi (CaO) cho mỗi ha hoặc 750-1000 kg bột tẩy (CI> 30%). Các ao được lđưa nước vào khoảng 40-50 cm nước biển lọc khoảng bảy ngày trước khi thả nuôi và có thể bón phân để kích thích tăng trưởng của tảo. Thông thường có thay ít nước trong thời gian nuôi ấu trùng.
 
Đối với kỹ thuật bán thâm, mật độ thả ban đầu là 20.000 đến 30.000 zoea mới nở trong một mét khối. Nếu ao được bón phân mật độ tảo (thường Isochrysis và Platymonas) đạt 2 x 10 mũ 5 đến 4 x 10 mũ 5 tế bào trên ml, ấu trùng chuyển zoea-2 trong khoảng năm ngày mà không cần cho ăn thêm. Nếu tảo không phát triển tốt, ấu trùng zoea-I và zoea 2 có thể ăn thức ăn bổ sung, chẳng hạn như sữa đậu nành và bột tảo khô Spirulina. Từ zoea-3 trở đi, ấu trùng được cho ăn chủ yếu là ấu trùng Artemia sống, copepods đông lạnh và thu hoạch từ tự nhiên. Năng suất của megalopae thường đạt 15-30 gram mỗi mét khối.
 
Đối với kỹ thuật quảng canh, mật độ thả ban đầu thường là ít hơn 10.000 ấu trùng trên mỗi mét vuông. Đối với tất cả các giai đoạn ấu trùng, trừ zoea-I (không ăn), luân trùng sống (Brachionus loài), là thức ăn chính, ở giai đoạn zoea 2, zoea 3 ấu trùng được cho ăn 35-40 kg luân trùng (trọng lượng ướt) / ha / ngày để duy trì một mật độ 2.000 đến 3.000 luân trùng cho mỗi lít. Luân trùng cho ăn tăng lên 70-80 kg / ha / ngày và 120-130 kg / ha / ngày ở giai đoạn zoea-4 và zoea-5, tương ứng. Ở giai đoạn sau đó ấu trùng, đặc biệt là giai đoạn zoea-5 và megalopae, luân trùng có thể được bổ sung với copepods đông lạnh hoặc Artemia sinh khối. Luân trùng được sử dụng để nuôi ấu trùng được nuôi trong ao đất bên cạnh ao ương ấu trùng cua, với tỉ lệ 1:1 diện tích ao. Luân trùng bổ sung cũng có thể được mua từ những người nông dân chuyên sản xuất nuôi trong ao đất. Nuôi luân trùng chủ yếu dựa vào phân bón hữu cơ lên men và trong khoảng thời gian 20-35 ngày có thể thu hoạch luân trùng ở sản lượng 900-1.000 kg mỗi ha . Sản lượng của cua megalopa trong kỹ thuật quảng canh biến động từ 1-7,5 g cho mỗi mét vuông.

Kỹ thuật vận chuyển megalopae:

Các trại giống sản xuất megalopae bán cho các trang trại nuôi cua, cua megalopae được vận chuyển ướt đến các trại ương trong những hộp gỗ (khoảng 60 x 46 x 10 cm) thông hơi để cho phép trao đổi không khí. Đáy và bên trong các hộp gỗ được lót lưới để ngăn megalopae lọt ra bên ngoài. Trước khi vận chuyển, các hộp được ngâm trong nước 12 giờ và lót các thực vật thủy sihh tẩm nước hoặc một khăn ướt được đặt bên dưới của hộp để cung cấp độ ẩm và ngăn ngừa megalopae co cụm trong một khu vực. Mỗi hộp có thể được vận chuyển khoảng 0,5 kg megalopae và hộp 5-10 có thể được xếp chồng lên nhau. Nếu điều kiện cho phép, nhiệt độ trong quá trình vận chuyển được kiểm soát giữa 14 và 18 ° C. Sử dụng phương pháp này, tỉ lệ sống megalopae có thể đạt 100% nếu thời gian vận chuyển ít hơn 12 giờ hoặc khoảng 90% nếu vận chuyển đến 24 giờ.

Ương cua giống:

Giai đoạn ương cua chia ra làm 2 giai đoạn và kéo dài 5-8 tháng. Giai đoạn đầu khoảng 20-30 ngày, trong đó megalopae được nuôi trong ao đất và đạt đến trọng lượng giữa 0,1 và 0,2 gram có kích thước khoảng hạt đậu nành gọi là "cua hạt đậu". Giai đoạn hai ương cua hạt đậu đến 3-10 gram là kích thước an toàn thả vào ao nuôi thịt. Khác với các loài ăn thịt, cua đồng có thể thả ở mật độ cao trong giai đoạn ương thứ hai và co thể ương tiếp trong ao ương đợt 1- Kích thước cua giai đoạn 2 thường bằng đồng tiền xu và gọi là "cua đồng xu" - giai đoạn 2 cũng có thể ương trực tiếp trong ruộng lúa. Các ao ương hoặc ruộng lúa phải có mương trú ẩn sâu 60-90cm cho cua vào những ngày trời nóng oi.  Đối với cả hai giai đạon ương, các thực vật thủy sinh được trồng trong ao nhằm cung cấp thực phẩm cho cua cũng như giúp cua trú ẩn.

Mật độ thả cho giai đoạn ương đầu tiên là khoảng 100 megalopae cho mỗi mét vuông hoặc 7,5 kg mỗi ha. Khi megalopae được thả, độ sâu nước thường được duy trì ở mức 20-30 cm, nhưng dần dần tăng lên 10, 15 và 20-25 cm trước giai đoạn cua lột xác lần đầu, lần hai và lần ba, tương ứng. Mực nước tối đa đạt khoảng 70-80 cm.

Trong giai đoạn ương, cua ăn chế độ ăn uống tự nhiên, bao gồm sinh vật phù du, thực vật và động vật sống ở đáy phát triển tự nhiên trong ao, ruộng lúa. Bổ sung nguồn cấp thức ăn, chẳng hạn như ngô, lúa mì, bí đỏ và cá tạp băm nhỏ, cũng như nguồn chất bổ sung để tăng cường sự phát triển của cua.
 
Một vấn đề lớn trong giai đoạn ương là khoảng 15-30% số cua bị còi cọc, cân nặng chỉ 15-35 gram và không bán được cho người nuôi. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiện tượng này có liên quan đến di truyền, nhiệt độ cao và dinh dưỡng, tuy nhiên, các kỹ thuật hiện giờ chưa kiểm soát được.

 
 
 
TS. Nguyễn Duy Hòa dịch

Kỳ tới - Kỹ thuật nuôi cua đồng
 

Nguồn tin: Shrimp News International - July, 2012.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 14 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
Quang Cao Vi Tri C
Quang Cao Vi Tri D
Quang Cao

Tin Tức Xem Nhiều Nhất

    THƯƠNG HIỆU THỦY SẢN

    Aquativ

    Đối tác chiến lược của

    noi that hoa phat

    Lâm Thị Ngọc Trân
    0903794022